Chuyển đến nội dung chính

Trích Lịch Sử Diễn Cát Xưa Và Nay (Từ Tr 25-31)

 TRÍCH LỊCH SỬ DIỄN CÁT XƯA VÀ NAY (Từ tr 25-31)

Làng Lạc Sử có các xóm: Xóm Bac, xóm Nam, Trại, sau này là xóm Yên Lạc, nhật giáp như thôn một nước Lạc Sở, một nửa Quảng Hà, gồm có 13 dòng họ, họ Tạ Đan tôn, họ Nguyễn, 3 họ: Võ, Trấn, Trương ở Hoà Lạc. Họ Phan, họ Lương, họ Cao, họ Lê (ở nửa xóm trạt) họ Hoàng Bá, Hoàng Vàn, họ Trấn, họ Đặng, thuộc Quảng Hà, sau 8/1945 thuộc làng Lạc Sở.

Đình Nam nhà thờ họ Tạ Đại tên gồm 7 toà nhà the thấn tổ Tạ Công Luyện (tự Đòn. Tỉnh). Ông xuất thân đồng dõi quý tộc sinh vào thập kỷ 30 thế kỷ 15, lớn lên trong thời Lê cực thịnh. Được giáo dục theo gia giáo phong kiên khoảng 25 tuổi ông làm quan võ, khoảng 40 tuổi trở thành võ tướng có tài thao lược đánh đông dẹp bác. Năm Tân Mão 1471 làm phó sử, có công lớn giúp vua Lê Thánh Tông đẹp xong quân xâm lược Chiêm Thành được nhà vua phong "Tướng quân khâm mệnh phó sử Luyện khè hầu", ngôn niệm cụ xử Tạ Hữu Đề (đời thứ 12) viết:

“Chốn Bắc khuyết khảm cờ quản mệnh Rộn quán quân hiệu lệnh uy nghi Quyền cao phó sứ chỉ huy Triệu từ “Chiêm tặc” tức thì vên mình

Đất nước trở lại thái bình ông được giữ chức phó sự đồn điền, phụ trách việc khai khẩn dật hoang, chiều dân lập ấp, lấy lương thực cung cấp quân lương, tước hầu được Vua han lộc, cấp đất cấp người, khai cơ lập ấp mở dân dòng họ

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sơ lược lịch sử và phát triển

  LỊCH SỬ VÀ NHÂN VẬT Quá trình lịch sử phát triển của nhân loại qua các thời kỳ, việc di cư tự nhiên theo bản năng sinh tồn của các dòng người từ vùng này đến vùng kia là điều tất yếu. Các bộ tộc trong đó có bộ tộc họ Tạ của người Bách Việt sinh sống dọc theo châu thổ sông Hồng và di cư rải rác khắp các vùng rộng lớn của Bách Việt. Vùng lãnh thổ Bách Việt: Phía Đông giáp Nam Hải (Biển Đông) Phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên TQ ngày nay) Phía Bắc tới Hồ Động Đình (Hồ Nam TQ ngày nay) Phía Nam tới Hồ Tôn Tĩnh (Vương quốc Chăm-Pa cổ – Nghệ An – Hà Tĩnh của Việt Nam ngày nay) Đây là địa giới hành chính nhà nước đầu tiên ở kỷ Hồng Bàng của cư dân Bách Việt. Trải qua những diễn biến trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nền chính trị, bộ máy quản lý nhà nước và địa giới hành chính tới nay đã thay đổi nhiều lần… Họ Tạ Việt Nam Là một dòng họ hình thành và phát triển từ thời tiền sử – Họ Tạ là một bộ phận của tộc người Bách Việt từ Kỷ Hồng Bàng, cư dân sinh sống ở khắp các vùng trên lãn...

Bài Ca Dâng Tổ

  Tham luận Hội thảo khoa học về các dòng họ Hội văn hoá dân gian Nghệ An BÀI CA DÂNG TỔ Trống rằm gióng dã dồn tan Đỉnh trầm khói toả, án hương rực đèn Tưởng nghe tiếng vọng linh thiêng  Tưởng mỡ hình bóng Tổ tiên năm nào  Nhớ người mũ phượng áo bào  Đồn điền phó sứ, vua trao bình quyền  Khẩn điền địa, cấp quân lương  Bình chiêm thắng lợi, muôn phương thái hoà  Trên vì nước, dưới vì nhà  Khẩn hoang được phép lo xa sớm chiều  Vùng Anh liệt, hạ Bán kiều  Nội nu, rộc Trúc bao nhiêu tấc vàng  Cò bay thẳng cánh dọc ngang  Bốn trăm mẫu đất, điền trang mở đầu  Công vì nước, Tước phong Hầu  Đời dời con cháu ghi sâu cội nguồn  Xưa nay hoang vắng bãi cồn  giờ đây rộn rã xóm thôn cuốc cày  Ba nguyên (1) miễn thuế từ đây  Nhà nhà no ẩm, tháng ngày yên ninh.  Bao công lao, bấy nghĩa tình  Chung vì nghĩa nước, riêng tỉnh cháu con Trăm năm bia đá thì mòn  Ngàn năm gương Tổ, trăng tròn đêm xu...

Đạo Chế Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê

  Đạo Chế Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê Nguyên Đồng Trị Phủ Phủ Kiến Thụy, Thâng Làm Phụng Thành Đại Phu, Thuận An Phủ Trị Phủ   Phiên âm: Thừa thiên hung vận. Hoàng để chế viết Trẩm duy lập chỉnh nhậm nhân ngu cử, dung dung chỉ điển, lượng tài định vị dụng tỉnh thái thái chỉ năng. Tu nhĩ Kiến Thụy phủ đồng Tri phủ Tạ Hữu Khúc văn học túc quan, tài khi khả thủ. Hữu du, hữu vị, hữu thủ, chính thuộc du nghị. Việt thanh, viết thận, viết cản, quan châm thị địch. Cản mẫn ngân khau để tịch, mình dương nghỉ giản tại đình. Tư đặc thăng thụ Phụng Thành đại phu, Thuận Yêu phủ Tri phủ, tích chỉ cáo mệnh. Thượng kỳ đức ý, cân tuyên phiền xuân dương ư khôn hạt, dân dung mậu trử đạt di chính ư bôi n. Khám tại Mình Mệnh nhĩ thập niên, thập nhĩ nguyệt, nhĩ thập nhật. Dịch nghĩa: Tuân theo mệnh trời, để hưng vận nước. Nhà vua ban Tời chế rằng: Trầm nghĩ làm chỉnh sự bổ dụng nhân tài cần nêu cao nghi thức, của xét công lao, tuỳ theo tài năng mà ban cho chức vị, cốt sao chọn được ...