Chuyển đến nội dung chính

Đạo Sắc Của Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê

 

Đạo Sắc Của Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê Làm Văn Lâm Lang, Tòng Lực Phẩm Trị Huyện Huyện Tứ Kỳ.

 Phiên âm: Thừa thiên hung vận. Hoàng đế sắc viết:

Học ưu tắc sĩ, từ quân tử chỉ bản tâm quan, duy kỳ nhân nãi quốc gia chi thường. Điển nhĩ thỉ thự Tứ Kỳ huyện, Tri huyện Tạ Hữu Khuê tài năng khả lục, hạnh kiểm túc quan, tảng tu đa đôn tố chi công, bất tổn quyết vẫn xu phó dốc thừa hưu chỉ nguyện. Hữu phục tại liêu. Tư đặc, thụ Văn lâm lang, Tứ Kỳ huyện Tri huyện, trật tòng lục phẩm. Thượng kỳ kỳ phụng hành cách địch ư quan thường thủ di trắc ưu ư chính tịch. Vô thể Trấm mệnh. Tương thí nhĩ năng. Khâm tai!

 Minh Mệnh thập ngũ niên, tam nguyệt, thập thất nhật.

Dịch nghĩa: Tuân theo mệnh Trời, đề hung vận nước. Nhà vua ban tặc răng

 Học giỏi thì làm quan, người quân tử vốn có lòng ra làm quan để gi nước giữ nhà. Xét thấy thủ quyền Trì huyện huyện Tứ Kỳ là Ta Hilu Khuê tài năng đáng ghi, hạnh kiểm đầy đủ, có nhiều tiềm năng phát triển. Fin hậu, thật thà, trong sạch trong công việc, luôn bám sát nhiệm vụ, giải quyết công việc nhanh chông đến nơi đến chốn. Đốt lông gánh vác nhiệm vụ đượ tốt đẹp, được trên mến dưới yêu và ca ngợi cô tỉnh thần phục vụ nơi quan và Nay đặc biệt trao cho làm Văn lâm lang, Trì huyện huyện Tứ Kỳ, phẩm trật tòng lục phẩm, phải biết thành kính chấp hành dẫn lối mở đường, phải làm thật tốt công việc được giao. Đặc biệt phải làm đúng khuôn phép, không được làm trái mệnh lệnh của Trẫm, đạt nhiều công lao. Thử xem tài năng của người. Kỉnh thay!

Ngày 17 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 15 (1914)

 Người dịch: Tạ Hữu Định

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sơ lược lịch sử và phát triển

  LỊCH SỬ VÀ NHÂN VẬT Quá trình lịch sử phát triển của nhân loại qua các thời kỳ, việc di cư tự nhiên theo bản năng sinh tồn của các dòng người từ vùng này đến vùng kia là điều tất yếu. Các bộ tộc trong đó có bộ tộc họ Tạ của người Bách Việt sinh sống dọc theo châu thổ sông Hồng và di cư rải rác khắp các vùng rộng lớn của Bách Việt. Vùng lãnh thổ Bách Việt: Phía Đông giáp Nam Hải (Biển Đông) Phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên TQ ngày nay) Phía Bắc tới Hồ Động Đình (Hồ Nam TQ ngày nay) Phía Nam tới Hồ Tôn Tĩnh (Vương quốc Chăm-Pa cổ – Nghệ An – Hà Tĩnh của Việt Nam ngày nay) Đây là địa giới hành chính nhà nước đầu tiên ở kỷ Hồng Bàng của cư dân Bách Việt. Trải qua những diễn biến trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nền chính trị, bộ máy quản lý nhà nước và địa giới hành chính tới nay đã thay đổi nhiều lần… Họ Tạ Việt Nam Là một dòng họ hình thành và phát triển từ thời tiền sử – Họ Tạ là một bộ phận của tộc người Bách Việt từ Kỷ Hồng Bàng, cư dân sinh sống ở khắp các vùng trên lãn...

Bài Ca Dâng Tổ

  Tham luận Hội thảo khoa học về các dòng họ Hội văn hoá dân gian Nghệ An BÀI CA DÂNG TỔ Trống rằm gióng dã dồn tan Đỉnh trầm khói toả, án hương rực đèn Tưởng nghe tiếng vọng linh thiêng  Tưởng mỡ hình bóng Tổ tiên năm nào  Nhớ người mũ phượng áo bào  Đồn điền phó sứ, vua trao bình quyền  Khẩn điền địa, cấp quân lương  Bình chiêm thắng lợi, muôn phương thái hoà  Trên vì nước, dưới vì nhà  Khẩn hoang được phép lo xa sớm chiều  Vùng Anh liệt, hạ Bán kiều  Nội nu, rộc Trúc bao nhiêu tấc vàng  Cò bay thẳng cánh dọc ngang  Bốn trăm mẫu đất, điền trang mở đầu  Công vì nước, Tước phong Hầu  Đời dời con cháu ghi sâu cội nguồn  Xưa nay hoang vắng bãi cồn  giờ đây rộn rã xóm thôn cuốc cày  Ba nguyên (1) miễn thuế từ đây  Nhà nhà no ẩm, tháng ngày yên ninh.  Bao công lao, bấy nghĩa tình  Chung vì nghĩa nước, riêng tỉnh cháu con Trăm năm bia đá thì mòn  Ngàn năm gương Tổ, trăng tròn đêm xu...

Đạo Chế Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê

  Đạo Chế Hoàng Triều Minh Mệnh Phong Tỏ Tạ Hữu Khuê Nguyên Đồng Trị Phủ Phủ Kiến Thụy, Thâng Làm Phụng Thành Đại Phu, Thuận An Phủ Trị Phủ   Phiên âm: Thừa thiên hung vận. Hoàng để chế viết Trẩm duy lập chỉnh nhậm nhân ngu cử, dung dung chỉ điển, lượng tài định vị dụng tỉnh thái thái chỉ năng. Tu nhĩ Kiến Thụy phủ đồng Tri phủ Tạ Hữu Khúc văn học túc quan, tài khi khả thủ. Hữu du, hữu vị, hữu thủ, chính thuộc du nghị. Việt thanh, viết thận, viết cản, quan châm thị địch. Cản mẫn ngân khau để tịch, mình dương nghỉ giản tại đình. Tư đặc thăng thụ Phụng Thành đại phu, Thuận Yêu phủ Tri phủ, tích chỉ cáo mệnh. Thượng kỳ đức ý, cân tuyên phiền xuân dương ư khôn hạt, dân dung mậu trử đạt di chính ư bôi n. Khám tại Mình Mệnh nhĩ thập niên, thập nhĩ nguyệt, nhĩ thập nhật. Dịch nghĩa: Tuân theo mệnh trời, để hưng vận nước. Nhà vua ban Tời chế rằng: Trầm nghĩ làm chỉnh sự bổ dụng nhân tài cần nêu cao nghi thức, của xét công lao, tuỳ theo tài năng mà ban cho chức vị, cốt sao chọn được ...